zxc's profilezxc's spaceBlogListsNetwork Tools Help

Blog


    October 15

    Thông báo

    Tôi ngừng post lên blog này. Ai quan tâm xin mời vào http://zxc232.co.cc
    Thanks,
    October 14

    Xem mặt Moblin.

    Moblin (viết tắt của Mobile Linux) là hệ điều hành Linux do Intel chủ xướng chuyên dụng cho các netbook dùng chip Atom của Intel (và một số chip khác dùng bộ lệnh SSSE3). Ngoài netbook, Moblin cũng nhằm vào các thiết bị Mobile Internet Device và các thiết bị nhúng như hệ thống thông tin trên ôtô.
    Ngoài việc chuyên hỗ trợ các chip trên, Moblin có mục tiêu khởi động nhanh và ít tốn pin. Sau khi công bố năm 2007, Moblin được môt loạt các nhà sản xuất netbook (Dell, Acer, ...) và nhà sản xuất Linux (Ubuntu, Mandriva, ...) ủng hộ.
    Trong phiên bản Mandriva 2010.0 RC2 vừa công bố ngày 10/10/09 có một bản Moblin riêng. (ví dụ tải về tại đây). Nhưng cũng có thể xem mặt Moblin từ các bản KDE hoặc GNOME.
    Vào Menu -> Install & Remove Software. Trong màn hình mới, chọn Meta Package -> Graphical Desktop -> Other  rồi chọn cài task-moblin. Sau khi cài xong, logout ra. Trong màn hình Log in, nhấn vào icon hình quyển sổ và cái bút, đánh dấu Moblin rồi đăng nhập.
    Màn hình chính như thế này:

    Màn hình này có một thanh panel ở trên cùng và tự ẩn khi không dùng. Di chuột lên mép trên màn hình để panel xuất hiện rồi nhấn vào biểu tượng Application thì màn hình như sau:

    Trong màn hình này có thể truy cập và mở các ứng dụng đã cài trong Mandriva. Moblin có một trình duyệt web riêng, giao diện giống Google Chrome và IE7.
    Giao diện Moblin khác hẳn các loại giao diện cũ nên phải học cách dùng.
    Ngoài Moblin, trong mục Graphical Desktop nói trên còn có thể cài thêm nhiều "bộ áo" khác: KDE4, Gnome, Enlightenment, Xfce, Ede, Lxde, Sugar. Chọn bộ áo nào từ màn hình Log in như đã nói ở trên.
    Ubuntu cũng có một bản Ubuntu Moblin Remix, phiên bản mới nhất là mobile-karmic-mobline-remix nhưng không rõ cách cài như thế nào.
    October 11

    Cảnh sát bang New South Wales: đừng dùng Windows để giao dịch ngân hàng trên Internet

    NSW Police: Don't use Windows for internet banking

    By Munir Kotadia
    Oct 8, 2009 5:31 PM

    Các khách hàng muốn an toàn khi kết nối với các dịch vụ ngân hàng internet thì nên dùng Linux hoặc Apple iPhone, một thanh tra cảnh sát bang New South Wales, Australia khuyên như vậy khi phát biểu thay mặt chính quyền bang trong một buổi điều trần trước quốc hội về tội phạm Internet.

    Thanh tra Bruce van der Graaf thuộc đơn vị điều tra tội phạm máy tính nói rằng ông có hai quy tắc để bảo vệ chính ông khỏi bọn tội phạm Internet khi giao dịch ngân hàng qua mạng (banking online).

    Quy tắc 1 là không bao giờ kích chuột vào một đường link trên site ngân hàng (nếu site đó là site giả mạo - phishing - đường link trên đó sẽ là một cái bẫy của bọn tội phạm) và quy tắc 2 là không dùng Microsoft Windows (để giao dịch ngân hàng trên mạng).

    (Giám đốc FBI mà còn suýt bị sập bẫy tin tặc)

    "Nếu bạn muốn dùng Internet để mua bán, hãy khởi động từ một đĩa Linux, Ubuntu hay gì đó tùy bạn. Puppy Linux cũng là một bản Linux nhỏ , khởi động rất nhanh. Bạn sẽ có một hệ điều hành hoàn toàn sạch, chỉ làm việc trong bộ nhớ máy tính và rất an toàn khi giao dịch ngân hàng qua mạng" van der Graaf khuyên.

    Sau đó, van der Graaf giải thích cho các dân biểu khởi động máy tính nghĩa là thế nào và nói rằng phương pháp mà ông đề nghị đảm bảo "100 phần trăm là sạch". Ông nói khởi động sạch như vậy sẽ tránh được mọi mã độc đã nhiễm vào máy "Nếu quý vị có một ổ cứng bị nhiễm mã độc ... thì sẽ không sao"

    Van der Graaf cũng nhắc đến iPhone mà ông nói là "hoàn toàn an toàn" khi giao dịch ngân hàng qua mạng. "Một phương pháp nữa là dùng điện thoại iPhone của Apple. Nó chỉ chạy được một lệnh một lần do đó không sợ nhiễm mã độc" (ở đây chắc có ý muốn nói iPhone là hệ single-tasking, mà các mã độc thì phải hoạt động trong môi trường multi-tasking).

    Van der Graaf nói ông nêu hai phương án thay thế Windows nói trên vì ông lo rằng các đạo luật trong tương lai buộc các nhà cung cấp dịch vụ Internet hoặc các ngân hàng phải kiểm tra máy của khách hàng đã được bảo vệ thì mới cho kết nối vào hệ thống.

    "Nếu quý vị đặt ra luật buộc các ISP phải kiểm tra máy khách hàng phải có tường lửa hay một cái gì đó tương tự, thì những người dùng các phương pháp nêu trên không giao dịch được (vì không có tường lửa, nhưng lại rất an toàn)"

    zxc232
    October 09

    Ubuntu 9.10 beta (tiếp theo)

    Cuối cùng cũng bắt được cô nàng Ubuntu 9.10 vào khuôn vào phép.
    Bootloader:
    Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub2, được xem là tiên tiến hơn Grub1 hiện vẫn đang phổ biến. Nhưng khi cài trên một ổ cứng có nhiều bản Linux, Grub2 chỉ nhận tốt các đồng hương cùng làng như Linux Mint, gOS, ...(cùng họ Ubuntu) và chọn boot được các bản Linux đó từ bootmenu của Grub2. Còn Mandriva, PCLinuxOS, ... có xuất hiện trong bootmenu nhưng không boot được. Tôi dùng cách sau:
    • Sau khi cài xong Ubuntu 9.10, boot lại máy từ một đĩa CD Mandriva. Mở terminal, lần lượt chạy các lệnh (để khôi phục bootloader của Mandriva đã cài trước đó):
      • su (để chuyển sang user root)
      • grub (vào trình grub)
      • find  /boot/grub/stage1 (tìm các bootmenu)
      • root  (hd0,x)  (trong đó hd0 là ổ cứng cài Mandriva, x là partition cài Man, nếu cài trên partition 5 -/dev/sda5 thì x=4)
      • setup  (hd0)  (cài lại bootloader)
      • quit (ra khỏi grub)
      • cũng có thể làm nhanh hơn bằng một lệnh grub-install /dev/sda nhưng tôi chưa thử.
    • Khởi động lại máy vào Mandriva. Trong màn hình Run command, chạy lệnh kdesu kwrite /dev/sda5/boot/grub/menu.lst để mở file menu.lst của Mandriva. Thêm vào file đó ba dòng sau:
    title Ubuntu 9.10
    root        (hd0,8)    
    kernel    /boot/grub/core.img

    (hd(0,x) là partition cài Ubuntu 9.10)
    Save file lại rồi boot lại máy từ ổ cứng. Khi bootmenu của Man xuất hiện, chọn dòng Ubuntu 9.10 rồi Enter để vào Ubuntu. Mandriva nhận tốt các bản Linux khác nên dùng bootmenu của nó boot được các bản đó. Chưa thử trường hợp cài Ubuntu 9.10 trước rồi mới cài Mandriva xem có nhận được Ubuntu 9.10 không.
    Bộ gõ tiếng Việt:
    Ubuntu 9.10 cài sẵn bộ gõ ibus, được xem là đời sau của scim chắc là có nhiều cải tiến hơn. Kích hoạt ibus bằng cách vào System -> Administration -> Language Support rồi trong màn hình đó chọn ibus ở mục Keyboard input method system. Sau đó đóng màn hình lại.
    Tác giả Lê Quốc Tuấn và cộng đồng ubuntu Vietnam đã phát triển được bộ gõ tiếng Việt ibus-unikey 0.3 (Thank you very much). Theo hướng dẫn ở đây để cài (add kho launchpad theo hướng dẫn ở đây, rồi cài bằng Synaptic. Tôi tải file deb về cài bằng GDebi bị báo lỗi dpkg: unable to read filedescriptor flag).
    UPDATE:Thử sơ qua, bộ gõ này hoạt động tốt. Bộ gõ ibus-unikey có một nhược điểm chung của scim và ibus là phải có phím kết thúc từ. Nếu không đang gõ dở, chuyển con trỏ đi nơi khác bị mất một số ký tự đã gõ. Tôi cài lại scim và scim-unikey nhưng hơi phức tạp hơn Ubuntu 9.04. Sẽ trình bày cách cài trong một post riêng.
    Mount các partition khác:
    Ubuntu 9.10 có một phần mềm Palimpsets (Administration -> Disk Utility) nhưng không mount vĩnh viễn (sửa file fstab được). Tốt nhất là cài thêm pysdm (rồi chạy từ Administration -> Storage Device Manager) để mount một lần cho xong.
    Đặt IP tĩnh cho card mạng:
    Dùng Network Manager Applet trên panel không đặt được. Phải mở file /etc/network/interfaces.
    Ổ cứng online:
    Lần này, Ubuntu có thêm một dịch vụ mới là Ubuntu One (Applications -> Internet -> Ubuntu One) cung cấp 2GB ổ cứng online miễn phí theo kiểu Dropbox đã giới thiệu ở đây. Cái dở là chỉ có cho Ubuntu, trong khi Dropbox dùng được cho cả Windows và các hệ Linux khác. Tuy nhiên, cài Dropbox không phải bao giờ cũng trơn tru ngay, nhiều khi phải cài đi cài lại, khởi động lại máy. Nhưng khi đã chạy, Dropbox hoạt động rất tốt: tốc độ download và upload khá nhanh, rất nhạy với mọi thay đổi của file mà nó quản (đang mở file để sửa, chỉ cần nhấn nút Save, chưa đóng file đã thấy Dropbox hoạt động rồi).
    Linh tinh:
    Thời gian khởi động nhanh nhưng thời gian load grub2 lại lâu hơn grub1
    Có một phần mềm chat mới là Empathy, chat được trên nhiều hệ thống chat khác nhau, nhưng chỉ thuần túy text chat, không có voice và video.
    Thay cho Add Remove Programs, có Ubuntu Software Center (Applications -> Ubuntu Software Center). Phần mềm này giống mintInstall đã giới thiệu ở đây: tập hợp một số phần mềm ứng dụng, giới thiệu trước về công dụng tính năng và xem trước được nhiều thông tin nữa trước khi quyết định cài.
    Menu hơi tiết kiệm, ví dụ một số phần mềm như Image Viewer(Eye for Gnome) và Document Viewer (Evince) không có trong menu Applications nhưng lại có trong menu con khi nhấn phím phải chuột vào một file ảnh.
    Sơ bộ thế đã. Để 20 ngày nữa xem bản chính thức.


    October 07

    Sàn chứng khoán London bỏ phần mềm Microsoft chuyển sang dùng Linux.

    Sàn chứng khoán London bỏ phần mềm Microsoft chuyển sang dùng Linux.

    Zxc232 tổng hợp từ Internet.

    Nguồn:

    1. http://blogs.computerworld.com/london_stock_exchange_suffers_net_crash

    2. http://computerworld.co.nz/news.nsf/news/59A7846C896BEA95CC2575E5007D8F33

    3. http://blogs.computerworld.com/london_stock_exchange_to_abandon_failed_windows_platform

    4. http://www.ibspublishing.com/index.cfm?section=news&action=view&id=13440

    5. http://www.computerworlduk.com/community/blogs/index.cfm?entryid=2568

    Ngày thứ hai 8/9/2008 đáng lẽ sẽ là một ngày đầy sôi động của sàn chứng khoán London (London Stock Exchange - LSE). Ngày chủ nhật trước đó, chính phủ Mỹ vừa tuyên bố sẽ cứu hai công ty bất động sản Freddie Mac và Fannie Mae khỏi phá sản. Tuy nhiên đúng 9h15 giờ GMT, phần mềm giao dịch chứng khoán ngừng hoạt động và phải gần 7 tiếng sau (đến 4 giờ chiều) mới khôi phục lại được. Các nhà đầu tư lỡ một cơ hội vàng lịch sử.

    Tuy thông tin chính thức của sàn phủ nhận đó là lỗi phần mềm và cũng không chịu nói rõ nguyên nhân, nhưng các diễn biến sau đó chứng minh điều ngược lại.

    Ngay sau sự cố, tổng giám đốc của sản Clara Furse phải ra đi. Tổng giám đốc mới Xavier Rolet lập tức quyết định chấm dứt hệ thống phần mềm TradElect đang sử dụng để chuyển sang hệ thống mới.

    TradElect là phần mềm chứng khoán do Microsoft và công ty tư vấn Accenture cùng xây dựng bằng C# và .NET chạy trên 100 máy chủ HP Proliant, hệ điều hành Windows Server 2003, cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2000. Mục tiêu của phần mềm là phải có được thời gian đáp ứng dưới 10 miligiây cho các giao dịch. (Xem thêm ở đây để thấy vai trò của thời gian đáp ứng đối với phần mềm chứng khoán). Hệ thống này vừa được Clara Furse nâng cấp, trị giá 65 triệu USD.

    Thay cho trước đây 95% công việc phần mềm là oursourcing ra bên ngoài, LSE quyết định mua nguyên một công ty phần mềm Sri Lanka MilleniumIT với giá 30 triệu USD gồm một trung tâm phát triển phần mềm gần Colombo (thủ đô SriLanka) với 300 chuyên gia lập trình và phần mềm chứng khoán của công ty được xem là có năng suất cao, linh hoạt, mạnh và chi phí thấp hơn nhiều so với TradElect. LSE dự kiến tiết kiệm được hàng năm ít nhất là 14,7 triệu USD. Giám đốc thông tin và công nghệ của LSE, David Lester, cho biết: “ Phần mềm mới nhẹ hơn, nhanh hơn và dễ cài đặt hơn, thời gian ra một phiên bản mới cũng ngắn hơn”

    Để chuyển đổi công nghệ, LSE đã tiến hành một quá trình chọn lọc trong 4 tháng, “20 phương án phần mềm khác nhau đã được xem xét và đưa ra một shortlist 4 công ty. Các thử nghiệm tổng thể được tiến hành và cuối cùng chỉ ra MilleniumIT là phương án tối ưu cho LSE” Lester cho biết.

    Phần mềm của MilleniumIT chạy trên nền Linux và Solaris. Lester nói rằng việc bỏ TradElect không phải vì công nghệ dotNET (mặc dù tốc độ giao dịch của TradElect chỉ đạt 2,7 miligiây trong khi phần mềm của sàn cạnh tranh Chi-X chạy trên Linux đạt 0,4 miligiây) mà vì MilleniumIT “điều khiển được nhiều hơn, rẻ hơn và cho phép xây dựng và đổi mới được”.

    Cùng với LSE, chi nhánh của nó là sàn Borsa Italiana cũng sẽ chuyển sang Linux. Như vậy công nghệ dotNet của Microsoft hiện chỉ còn được dùng ở sàn chứng khoán Johannesburg.

    Một sàn chứng khoán Nauy, Oslo Bors, đang định dùng TradElect vào tháng 2/2010 giờ cũng sẽ chuyển sang MilleniumIT.

    Microsoft không bình luận gì về các sự kiện nói trên, chỉ nói rằng hãng đang hoàn thiện các công nghệ mới cho phần mềm chứng khoán để chứng minh rằng Windows Server 2008 và Microsoft dotNet có thể hỗ trợ thành công các giao dịch chứng khoán với độ trễ rất thấp cỡ 100 microgiây. Nếu bổ xung thêm Microsoft Network Direct thì độ trễ còn có thể giảm xuống 50% nữa.

    Ngoài sàn Chi-X đã nói ở trên, Linux hiện cũng đang được dùng ở các sàn CME (Chicago Mercantile Exchange), sàn chứng khoán New York NYSE (New York Stock Exchange), …

    (Các tin khác về việc dùng Linux trong các ngân hàng và sàn chứng khoán có thể xem rải rác trong blog này. Nhìn chung, hiệu quả của Linux trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng và các lĩnh vực cần đến tốc độ tính toán nhanh có vẻ đã được khẳng định.

    Điều đáng ngạc nhiên là một công ty phần mềm nhỏ của SriLanka, một đất nước nhỏ bé và lạc hậu, mới đây còn đầy mùi khói súng lại có thể làm nên được một sản phẩm cao cấp đến như vậy. Trông người lại nghĩ đến ta. Buồn 5 phút!)


    zxc232

    Linux đã cứu hệ thống điện Australia

    By Nick Farrell

    Thursday, 1 October 2009, 09:52

    (Đây là một vấn đề nghiêm trọng. Không biết các hệ thống điều khiển của Việt nam nghĩ sao về chuyện này)

    Những người yêu phần mềm nguồn mở đã có phản ứng nhanh cứu được hệ thống phân phối điện Australia sau khi mạng máy tính của phòng điều khiển trung tâm bị nhiễm virus.

    Một con virus Windows W32.Virus.CF đã nhiễm vào mạng của hệ thống Năng lượng tích hợp (Integral Energy) và lan ra các máy tính trong phòng điều khiển.

    Những kỹ thuật viên của phòng đã thay các máy Windows bị nhiễm virus bằng các máy Linux đang dùng để viết phần mềm. Nhờ thế, virus đã không lan được sang các máy điều khiển còn lại.

    Đã có nhiều các cuộc điều tra của các chính phủ trên toàn cầu về an ninh của các công ty điện lực vì sợ rằng các hacker, các tên khủng bố hoặc các chiến binh mạng của các nước thù địch có thể chiếm quyền kiểm soát mạng lưới điện quốc gia. Nay điều lo lắng đó có vẻ đã thành sự thật.

    Theo báo Sydney Morning Herald, nhiều máy Windows khác trong hệ thống Năng lượng tích hợp cũng bị nhiễm virus và hơn 1000 máy phải cài đặt lại.

    Hệ thống được bảo vệ bởi phần mềm của Symantec và virus W32.Virus.CF đã được đăng ký trong cơ sở dữ liệu của hãng từ tháng hai. Website của Symantec mô tả con virus này là đặc biệt độc hại (particularly sinister), lây nhiễm nhanh và khó tiêu diệt. Nó thiết lập một cổng hậu (back door) trên máy bị nhiễm, cho phép hacker phát lệnh điều khiển máy qua kênh Internet Relay Chat (IRC). (và như vậy, hacker có thể điều khiển được hệ thống truyền tải và phân phối điện).

    Chris Gatford, một chuyên gia an ninh mạng của Hacklabs cho rằng sự cố trên xảy ra có thể do một số máy đã không được cập nhật virus hoặc phần mềm của Symantec đã không phát hiện ra do kỹ thuật che dấu của virus.

    zxc232

    October 06

    Cơ sở dữ liệu nguồn mở trong thực tế.

    EnterpriseDB says open source database saves big bucks

    zxc232 lược dịch
    (Tôi giới thiệu bài này để thấy trong thực tế cơ sở dữ liệu nguồn mở đã và đang được ứng dụng trong kinh doanh. Các thông tin về tính năng trong bài là lời quảng cáo của hãng bán sản phẩm, bạn đọc tự đánh giá - ND)
    Nhờ chuyển từ cơ sở dữ liệu nguồn đóng sang cơ sở dữ liệu nguồn mở, các công ty bán hoa online FTD và công ty Sony Online Entertainment đã tiết kiệm được một số tiền lớn mà vẫn đáp ứng được nhu cầu kinh doanh.

    Trong hội nghị Red Hat Summit, Tổng giám đốc của công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở EnterpriseDB, Ed Boyajian, đã nhắc đến hai công ty nói trên như ví dụ (các khách hàng khác xem ở đây)chuyển đổi thành công từ phần mềm cơ sở dữ liệu Oracle sang phần mềm cơ sở dữ liệu Postgres của EnterpriseDB. Postgres dựa trên PostgreSQL, một trong hai phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn mở nổi tiếng nhất hiện nay. EnterpriseDB đã giúp hai khách hàng trên xây dựng hạ tấng IT với chi phí rất thấp.

    Boyajian cho rằng "Cơ sở dữ liệu là lĩnh vực chuyển sang phần mềm nguồn mở rất hấp dẫn và có thể là công nghệ nguồn mở đột phá nhất trong 5 năm tới. Công nghệ Thông tin đang đối mặt với thách thức: nhu cầu xử lý càng ngày càng tăng nhưng ngân sách dành cho IT lại không tăng hoặc giảm. Đó là một vấn đề kinh tế cơ bản nhưng cũng là một động lực lớn cho việc đổi mớitrong thời kỳ suy thoái kinh tế. Ngược lại, cơ sở dữ liệu Oracle đang là một "con bò vắt tiền" của khách hàng, trói chặt khách hàng vì không thể tách các phần mềm ứng dụng khỏi cơ sở dữ liệu."

    Cơ hội của cơ sở dữ liệu nguồn mở.

    Vẫn theo Boyajian, mặc dù MySQL vẫn là cơ sở dữ liệu nguồn mở phổ biến nhất, Postgres của EnterpriseDB mạnh hơn và nhanh hơn. Ví dụ hãng FTD đã dùng Postgres Plus để tạo một cơ sở dữ liệu riêng, tách khỏi Oracle và tiết kiệm được hàng trăm nghìn đôla, tốc độ tăng 400%, thời gian chuyển đổi mất sáu tuần.

    Sony Online Entertainment, một khách hàng cũ của Oracle, đã tung ra trò chơi Free Realms chạy trên cơ sở dữ liệu Postgres Plus. Sau khi đã tiết kiệm được 80% chi phí cơ sở dữ liệu cho trò chơi mới, hãng quyết định từ nay sẽ dùng Postgres Plus cho các trò chơi trong tương lai.

    Ngoài ra, một hãng viễn thông hàng đầu đang chuyển vài trăm hệ phần mềm từ Oracle sang Postgres, bắt đầu từ hệ quản lý nhân sự và bán hàng, tiếp theo là thanh toán và quản lý thiết bị trong hai ba năm tới. Hãng dự kiến sẽ tiết kiệm được 90 triệu đôla. 

    Các ví dụ nói trên đã gây ấn tượng cho Craig Bogovich, nhà kiến trúc hệ thống của công ty Pilgrim Health Care. Bogovich cho biết công ty bảo hiểm y tế của ông "đang tích cực tìm kiếm các giải pháp phần mềm nguồn mở để tiết kiệm chi phí" và có lẽ sẽ xem xét EnterpriseDB. "Chúng tôi đang rất hài lòng với hệ điều hành Linux Red Hat chạy trên các máy chủ thương mại và đã tích cực từ bỏ các máy chủ HP_UX với bộ xử lý RISC từ năm 2004. Thách thức lớn nhất của chúng tôi là chọn các ứng dụng của bên thứ ba. Chúng tôi yêu cầu dứt khoát là các ứng dụng đó phải được xác nhận là chạy tốt trên cơ sở dữ liệu được chọn. "

    Boyajian nêu ra các con số để chứng minh số tiền tiết kiệm thực tế khi dùng PostgreSQL so với các phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn đóng. Bản PostgreSQL Enterprise miễn phí, trong khi phần mềm cơ sở dữ liệu DB2 của IBM chi phí ban đầu là 582.400 USD cho giấy phép sử dụng 3 năm trên 8 máy chủ, còn cơ sở dữ liệu Oracle thì mất 760.000 USD. Chi phí bảo trì hàng năm của 8 máy chủ đó là 215.760 USD đối với EnterpriseDB, 349.440 USD đối với IBM và 501.600 đối với Oracle.

    (Các hệ thống lớn trước đây thường dùng các máy chủ đặc chủng đắt tiền chạy hệ điều hành Unix. Các hệ điều hành Linux có thể chạy trên các máy chủ thương mại phổ thông - commodity server - với chi phí rẻ hơn nhiều mà vẫn đáp ứng được yêu cầu. Một hãng bảo hiểm y tế mà dùng tới máy chủ hàng khủng như HP_UX, 128 processor cores là một điều mới mẻ ở Việt nam, chứng tỏ nhu cầu IT thực sự phải như thế nào - ND)

    "Mỗi công ty công nghệ lớn đều có những cái riêng làm cho khó mà tách ra khỏi họ" Boyajian nói " Cái riêng của phần mềm nguồn mở là cho bạn sự tự do, trao lại quyền kiểm soát cho khách hàng"

    Lấp khoảng cách về tính năng
    Nhưng sự tự do cũng đi kèm với những thỏa hiệp về tính năng mà các cơ sở dữ liệu nguồn mở còn chưa vượt qua được. Craig Mullins, phó chủ tịch chiến lược dữ liệu của Neon Enterprise Software nói rằng các công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở như EnterpriseDB đã lấp được các khoảng cách về các chức năng của cơ sở dữ liệu (database functionality) so với các phần mềm nguồn đóng nhưng còn thua về các công cụ quản trị, thay đổi cơ sở dữ liệu, công cụ sao lưu và khôi phục, những công cụ mà các hãng lớn phải mất nhiều năm mới xây dựng được.

    EnterpriseDB đã làm được một việc rất hay là làm cho PostgreSQL có thể chạy các ứng dụng Oracle, do đó đơn giản hóa được quá trình phát triển và bảo trì phần mềm ứng dụng, nhưng việc thiếu các công cụ có thểlàm cơ sở dữ liệu và ứng dụng khó đáp ứng các yêu cầu về tính năng trong các hợp đồng dịch vụ, Mullins cho biết.

    Boyajian cho rằng việc phát triển phần mềm nguồn mở PostgreSQL đã hơn 20 năm trong trường đại học Berkeley, có đội ngũ các nhà phát triển tích cực nên bảo đảm chất lượng tốt hơn là các phần mềm nguồn đóng. Do bản chất phát triển cộng đồng nên Postgres hiện thiếu sự thúc đẩy thương mại, EnterpriseDB đang cố gắng làm điều đó. EnterpriseDB là một liên doanh giữa IBM và Sony mới thành lập được 5 năm, có được hàng trăm khách hàng và doanh số tăng gấp đôi hàng năm nhưng vẫn chưa có lãi.

    October 05

    Trục trặc với Ubuntu 9.10 Beta

    Vừa thử cài Ubuntu 9.10 Beta, gặp một số trục trặc:
    1. Trình cài đặt đã được viết lại một phần, trong quá trình cài có màn hình giới thiệu các tính năng chính (giống Windows) xem đỡ sốt ruột khi chờ đợi. Tuy nhiên, màn hình hiển thị các partition vẫn bị lỗi tràn ra ngoài màn hình do đó không nhìn thấy phím Next, phải dùng phím Tab để chuyển focus rồi Enter mò, không dùng chuột được (giống lỗi trong Ubuntu 9.04).
    2. Trình Network Manager không cài đặt được card mạng theo kiểu manual (đặt IP tĩnh bằng tay). Phải mở file /etc/network/interfaces để cài đặt card mạng. Lỗi này trong Ubuntu 9.04 và openSUSE 11 cũng bị.
    3. Kết nối được Internet xong, cài được phần mềm từ repositories nhưng Firefox lại không vào các trang web được.
    4. Điểm dở nhất (đối với tôi) là Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub version 2 (Grub 2) thay cho Grub 1 mà các bản Linux hiện đang dùng (kể cả Ubuntu 9.04). Trình này nhận biết các bản Linux khác ngoài dòng Ubuntu (như Mandriva, PCLinuxOS, ...) rất kém, do đó boot menu do nó tạo ra không boot được các bản Linux nói trên. Thay cho file /boot/grub/menu.lst sửa rất dễ của Grub 1, Grub 2 dùng file /boot/grub/grub.cfg khá phức tạp, không cho sửa kể cả với quyền root. 
    5. Khi khởi động, Grub 2 tải lâu hơn hẳn Grub 1, mặc dù sau đó quá trình khởi động của Ubuntu khá nhanh.
    Vì đây chỉ là bản beta nên hy vọng là khoảng 20 ngày nữa sẽ khá hơn. Tôi thường cài vài bản Linux trên máy nên lỗi trên là khá khó chịu vì sau khi cài Ubuntu không boot được vào các bản khác.
    zxc232
    October 04

    Rắc rối vì một cái link!

    Cuối cùng thì sự cố blog zxc232.wordpress.com của tôi bị khóa bất thình lình cũng kết thúc tốt đẹp, blog được mở lại. Chia sẻ với mọi người nguyên nhân để cùng rút kinh nghiệm:
    Sau khi blog bị khóa, tôi cũng tìm được chỗ gửi mail cho bộ phận support của Wordpress tại đây. Khoảng một ngày sau thì nhận được mail "Sorry for that" và cho biết nguyên nhân vì trong một bài viết tôi có dẫn link của một công ty phần mềm có nhiều rắc rối gì đó với wordpress.com:  "That site has caused us many problems in the past". Sau khi tôi đề nghị xóa hộ link đó thì mọi việc OK.
    Như vậy theo tôi hiểu thì trên wordpress.com có một phần mềm kiểm duyệt tự động dò tìm theo một danh sách đen (blacklist). Blog nào có dẫn link trong danh sách đen đó là tự động bị khóa!
    Nếu trong danh sách đen đó có các site sex hoặc spam comments hoặc phát tán malware ... thì còn hiểu được. Cái site tôi dẫn link là của một công ty phần mềm không hiểu có ân oán giang hồ gì với Wordpress? Mà các blogger làm sao biết được điều đó? Tôi không dám viết lại cả tên công ty đó ở đây, sợ cái phần mềm cảnh sát kia nó lại cho mình tiêu lần nữa, bạn nào quan tâm có thể xem ở đây (nó là cái link ... Linux Data Recovery ở gần cuối bài).
    Cũng vì thế nên khi tôi tạo blog mới tại Wordpress rồi import các posts từ Blogger sang (trong đó có bài chứa cái link nói trên) là bị phần mềm cảnh sát tự động khóa luôn, không phải lỗi khi import Blogger nói chung.
    May mà trước dó ít lâu tôi đã phòng ngừa theo cách ở đây., giả sử có bị khóa hẳn thì cũng không đến nỗi mất hết.
    Xét cho cùng thì cũng tại mình ngu. Suốt ngày đi dạy bảo mọi người là dùng máy tính thì phải nhớ sao lưu dữ liệu mà lại quên là trên Internet cũng phải thế! Bài học Yahoo 360 là điển hình, may mà tôi không lâp blog trên đó.
    Cách làm nói trên chỉ dự phòng được blog nhưng địa chỉ blog thì chưa. Vì vậy tôi đăng ký cái http://zxc232.tk , bạn hãy vào blog của tôi theo địa chỉ đó. Hiện tại nó dẫn đến zxc232.wordpress.com, nếu trục trặc thì nó sẽ trỏ sang blog mirror.
    Nhưng nếu site dot.tk cũng chết thì sao? Cách chắc nhất là bỏ tiền đăng ký hẳn một địa chỉ Internet, nhưng blogger hình như mới có nhà báo Osin làm việc đó.
    October 02

    Vài ấn tượng ban đầu với Mandriva 2010.0 KDE RC1 và Kubuntu 9.10 Beta

    Cuối tháng 10 hai bản Linux mà tôi quan tâm sẽ ra đời phiên bản mới: Ubuntu 9.10 và Mandriva 2010.0. Sau đó ít lâu sẽ là các bản Linux Mint 8 (dựa trên Ubuntu) và PCLinuxOS 2010 (dựa trên Mandriva).
    Mandriva 2010.0 RC1: hiện đã có bản RC1, đến 3/11 là bản chính thức.
    • Cài đặt trơn tru, không gặp trục trặc gì về nhận biết phần cứng (đã cài thử trên vài máy).
    • Dùng các phần mềm mới nhất: kernel 2.6.31, KDE 4.3, OpenOffice 3.1, Firefox 3.5.3. Đặc biệt, làm việc tốt với card màn hình Intel, không bị lỗi như bản 2009.1. KDE 4.3 đẹp, chạy nhanh, và nhiều tính năng hơn bản 4.2. KDE4 hiện có vẻ đã đủ độ chín.
    • Kernel 2.6.31 đã hỗ trợ chuẩn USB 3.0 tốc độ 5Gbits/s nhanh hơn 10 lần USB 2.0 hiện nay. Thiết bị hình như cũng đã bắt đầu có. Hiện tại, Linux là hệ điều hành đầu tiên hỗ trợ chuẩn này.
    • Gõ tiếng Việt tốt với scim-unikey 0.3.1 nhưng cài scim thì hơi trục trặc, không trơn tru như các bản Mandriva cũ. Hy vọng lỗi này sẽ hết trong bản chính thức.
    • Từ bản 2009.1, Mandriva có chế độ ghi file iso vào USB để cài, không cần burn vào đĩa CD nữa. Download file mandriva-seeds.sh tại đây (ở cuối danh sách), sau đó chạy file trong terminal và theo hướng dẫn. Khi cài chọn chế độ boot từ USB.
    • Vẫn như cũ, Mandriva ưu tiên cho các phần mềm khác đưa vào file cài đặt, nên muốn cài máy in phải tải về khoảng 280MB phần mềm nữa.
    • Dùng thử khoảng 1 tuần, chạy khá ổn, nhưng không nhận được máy in Canon 1210 (các đời trước nhận ngon kể cả khi chưa có driver CAPT).
    Kubuntu 9.10 Beta:
    • Trình cài đặt mới, đẹp hơn và dễ nhìn các partition hơn bản cũ.
    • Cũng dùng các phần mềm mới nhất KDE 4.3.1, OpenOffice 3.1.1. Riêng trình duyệt mặc định vẫn là Konqueror, nhưng có thể cài thêm Firefox. KDE4.3 chạy khá nhuyễn không như các bản Kubuntu trước. Đặc biệt có sẵn một số Plasma Widget kết nối với Google Calendar, Flick, Facbook, Twitter,...
    • Tích hợp với bộ công cụ GTK+ nên các ứng dụng GNOME có giao diện giống KDE hơn và tùy biến được.
    • Thử cài trên notebook được, nhưng trên hai máy để bàn thì thua: một máy không boot được vào chế độ LiveCD, một máy thì ngừng ở chổ copy package list. Hai máy này cài Mandriva 2010.0 RC1 đều được. Để khi có bản chính thức thử lại xem sao.



    October 01

    Wordpress.com bị chập IC !!!

    Sáng nay ngủ dậy, vào blog chính zxc232.wordpress.com thì nhận được cái thông báo thế này:
    "This blog has been archived or suspended for a violation of our Terms of Service."
    Chỉ có một trong hai khả năng:
    1- Password bị hack và trong đêm qua đã có kẻ nào đó làm bậy nên blog bị khóa.
    2- Wordpress.com bị chập IC. Hình như trường hợp này cũng đã từng xảy ra trên Yahoo360 ngày xưa
    Nhưng bực nhất là không biết lý do và cũng không có địa chỉ nào để gửi mail hỏi tại sao cả.
    May mà cũng đã lo xa dùng cái này.
    Từ giờ trở đi địa chỉ blog chính sẽ là http://zxc232.tk

    zxc232
    September 28

    Chăm sóc ổ cứng trong Linux

    1- Xem thông tin ổ cứng:
    Dùng quyền root chạy lệnh lshw trong terminal cho thông tin đầy đủ nhất: trong máy có bao nhiêu ổ, thông số từng cái, mỗi ổ có bao nhiêu patition (trong lệnh này, các partition được gọi là volume), ... Tuy nhiên, giao diện dòng lệnh hơi khó xem.
    Trong Mandriva Control Center có phần Hardware, nhưng thông tin về ổ cứng không chi tiết đến mức từng partition như lệnh lshw. Phải vào mục Local disk mới có thông tin chi tiết về các partition dưới dạng đồ họa, trực quan.
    Trong Ubuntu có thể cài gparted ( chạy từ Administration → Partition Manager) để xem thông tin về các partition (và làm một số việc nữa xem ở dưới)

    Ký hiệu hay dùng nhất của các partition thường là /dev/sda1, /dev/sda2, …. Nếu có một ổ cứng thứ hai thì các partition trên đó là /dev/sdb1, ….
    2- Tạo mới, xóa, sửa dung lượng, di chuyển, format các partition:
    Trong Mandriva có sẵn công cụ để làm các việc trên (Mandriva Control Center -> Local disk). Tuy nhiên, công cụ đầy đủ và mạnh nhất để làm các việc trên là gparted (cài được cả trong GNOME và KDE). Có những việc (format, move partition, …) Mandriva Control Center không làm được nhưng gparted làm được. Linux Mint có cài sẵn gparted, Ubuntu hình như là không, phải tự cài.

    Trong Linux cũng có các lệnh fdisksfdisk như của DOS nhưng không thật thành thạo thì không nên dùng.
    3- Mount và umount các partition:
    Mandriva Control Center -> Local disk cho phép xem các partion đã mount vào thư mục nào, thay đổi thư mục mount, mount tạm thời để xem nội dung (không ghi vào file fstab), mount tự động khi khởi động máy tính (ghi thành lệnh vào file /etc/fstab). Tóm lại là đầy đủ cho việc mount, umount các partition.
    Ubuntu không có công cụ tương tự. Gparted có thể umount nhưng không mount được. Tuy nhiên có thể cài phần mềm pysdm (có trong kho phần mềm) để quản lý việc mount và umount (ghi được vào file fstab) tuy không trực quan bằng Mandriva. Sau khi cài, phần mềm này xuất hiện trong nhóm menu Administration với tên là Storage Device Manager.

    CHÚ Ý: các partition Windows (ntfs, fat?) khi chạy trong Windows không shutdown mềm (mất điện bất thình lình, tắt máy cưỡng bức bằng cách giữ nút Power) sẽ bị đánh dấu là “dirty”, Linux sẽ không mount các partition dirty đó. Vì vậy:

    • Nếu chạy chung Windows và Linux trên một máy, khi thấy hiện tượng Linux không mount được các partition Windows thì phải khởi động lại Windows, rồi shutdown mềm (bằng lệnh shutdown trong menu). Sau đó khởi động vào Linux mới mount được.

    • Nếu dùng ổ cứng ngoài format NTFS nối vào Windows cũng phải shutdown mềm rồi mới tháo ổ. Nếu không, cắm ổ đó sang Linux sẽ không mount được.

    4- Kiểm tra và theo dõi sức khỏe ổ bằng SMART.

    Công nghệ S.M.A.R.T (Self-Monitoring, Analysis, and Reporting Technology - tự theo dõi, phân tích và báo cáo) là công nghệ theo dõi khoảng vài chục chỉ số để dự đoán trước các hư hỏng vật lý có thể có của ổ cứng. Các ổ cứng hiện nay đều hỗ trợ công nghệ này và để sử dụng trước hết nó phải được kích hoạt từ BIOS Setup.

    Phần mềm Linux hỗ trợ công nghệ này là GsmartControl cài từ kho phần mềm hoặc tải về từ đây. Trước đó cần cài các gói phần mềm smartmontools có trong kho phần mềm. Vì smartmontools gửi các cảnh báo đi bằng email nên khi cài, nó yêu cầu cài thêm một số phần mềm gửi email như mailx, postfix (chỉ một cũng đủ không hiểu sao lại yêu cầu cài cả ba).

    GsmartControl cho phép kích hoạt SMART, test ổ cứng theo hai chế độ: Short self-test và Extended self-test, đưa ra báo cáo chi tiết.

    Muốn chạy trình thường trú (daemon) để theo dõi ổ xem ở đây.

    5- Kiểm tra, sửa lỗi “phần mềm” của ổ cứng.

    SMART nói ở trên theo dõi các lỗi vật lý của ổ cứng. Các lỗi thuộc về phần mềm (boot sector, master boot record, bảng partition, …) dùng các công cụ khác để kiểm tra và khắc phục.

    Kiểm tra tính tương thích của hệ thống file:

    Trong Windows có các lệnh scandiskchkdsk để kiểm tra lỗi không tương thích của hệ thống file trên ổ cứng. Lệnh tương tự trong Linux là fsck (file system check).

    fsck được đặt lịch tự động chạy kiểm tra các partition sau 25-30 lần mount (thường là bằng với số lần khởi động máy tính). Vì vậy thỉnh thoảng ta thấy Linux khởi động lâu hơn thường lệ là do fsck đang làm việc.

    Khi Linux khởi động, nếu nó nghi ngờ partition nào có vấn đề, fsck cũng được tự động chạy để kiểm tra.

    Người dùng có thể chạy fsck để kiểm tra như sau:

    • Khởi động máy tính bằng một đĩa cài Linux có chế độ Live CD (bản Linux nào cũng được, không nhất thiết phải cùng với bản đang cài trên ổ cứng).

    • Trong chế độ chạy Linux Live CD, mở terminal rồi chạy lệnh
      fsck -y -p -c /dev/sda3
      trong đó /dev/sda3 là partition cần kiểm tra (hoặc sda2, sda5, … tùy theo tình hình cụ thể của ổ cứng), -y là đồng ý với mọi câu hỏi mà lệnh có thể hỏi, -p: tự động sửa lỗi, -c:
      kiểm tra và đánh dấu các bad blocks. Còn nhiều option khác, gõ lệnh man fsck để xem.


    Cập nhật: cũng có thể kiểm tra bằng trình gparted. Mở gparted, nhấn phím phải chuột vào partition cần kiểm tra (nếu partition đang mount thì umount trước) rồi chọn Check. Nếu cần kiểm tra partition cài Linux (đã mount vào /) thì boot máy bằng đĩa Linux có gparted, chạy gparted rồi kiểm tra.

    Chú ý: không được kiểm tra các partition đang mount, hỏng dữ liệu.

    Kiểm tra, sửa chữa các thứ khác:

    • Chữa bảng partitions bị hỏng, khôi phục các partitions bị mất.

    • Khôi phục lại boot sector của FAT32/NTFS từ bản backup.

    • Tạo lại (rebuild) boot sector FAT12/FAT16/FAT32/NTFS.

    • Chữa bảng FAT bị hỏng.

    • Chữa Master File Table (MFT) từ bản mirror.

    • Tìm các SuperBlock backup của ext2/ext3.

    • Khôi phục các file bị xoá ở các partitions FAT, NTFS và ext2.

    • Copy file từ các partitions FAT, NTFS, ext2/ext3 đã bị xoá.

    dùng công cụ teskdisk như đã giới thiệu ở đây.

    Undelete file đã xóa trong ext3

    Có người thì khẳng định là hệ thống file ext3 không undelete được, người thì lại nói được.

    Có một dự án đang xây dựng một công cụ undelete cho hệ thống file ext3 là ext3grep nhưng cách làm khá phức tạp, xem chi tiết tại đây.

    Một công cụ khác (R-Linux) để undelete các file ext2/ext3/ext4 nhưng chạy trên Windows xem tại đây. Stella Phoenix Linux Data Recovery là một phần mềm khác chạy trên Windows cũng khôi phục được các file ext2/ext3/ext4 bị xóa.

    Các công cụ này tôi cũng chưa dùng bao giờ.

    Khôi phục boot menu bị mất (ví dụ sau khi cài lại Windows) theo cách đã nêu ở đây.

    Tự động đổi ảnh nền màn hình trong GNOME

    Trong KDE đã có sẵn các chế độ ảnh nền màn hình (wallpaper): a/ Ảnh tĩnh (chỉ chọn một ảnh cố định), b/Ảnh động dưới dạng slideshow (tự động thay ảnh trong các thư mục chọn trước sau một khoảng thời gian nào đó). Nhấn phím phải chuột vào desktop, chọn Desktop Settings để đặt các chế độ trên. KDE 4.2 trở xuống có thời gian tối thiểu thay ảnh là 1 phút, KDE 4.3 cho phép chọn nhỏ hơn đến mức giây.

    Trong GNOME, mặc định chỉ có chế độ ảnh tĩnh: nhấn phím phải chuột vào desktop, chọn Change Desktop Background rồi chọn ảnh. Tuy nhiên có thể cài thêm một trong hai phần mềm sau (có sẵn trong kho phần mềm) để chạy ảnh theo chế độ slideshow:
    • Drapes: sau khi cài, chạy từ dòng lệnh hoặc menu, một icon hình màn hình sẽ xuất hiện trên System Tray của panel. Nhấn phim phải chuột vào đó, rồi nhấn Preferences để đặt các settings: cho tự khởi động cùng máy tính, chọn khoảng thời gian thay ảnh (min là 5 phút), chọn thư mục có ảnh. Nhược điểm là thông số min=5 phút nói trên, hơi lâu. Nếu muốn chủ động đổi ảnh thì nhấn chuột vào biểu tượng nói trên.
    • Wallpaper-tray: sau khi cài, nhấn phím phải chuột vào panel, chọn add to panel rồi tìm wallpaper tray trong danh sách để add, biểu tượng sẽ xuất hiện trên panel. Công cụ này cho phép add các folder chứa ảnh nền tiện hơn cái trên và thời gian chuyển ảnh ngắn hơn (min=1phút, thậm chí có thể đặt min=0,5 phút chẳng hạn). Nhược điểm là sau khi đặt các settings rồi, nhiều khi không thể gọi lại màn hình để sửa và cũng không biết file cấu hình nằm đâu. Tôi chót đặt min=0,1 phút, ảnh thay rất nhanh nhưng tốn CPU mà không tim được cách nào để chỉnh lại.
    September 22

    Mã độc nguồn mở!

    Why malware writers are turning to open source

    Nick Heath - 2009/09/21 11:19:02

    Những kẻ viết mã độc (malware) đang nguồn mở hóa sản phẩm của mình để cải tiến nó tốt hơn.

    Bằng cách cho người khác truy cập tự do vào mã nguồn của các loại mã độc (malware) chuyên ăn trộm thông tin cá nhân và thông tin tài chính, các tác giả của những mã độc đó hy vọng sẽ mở rộng được tính năng của nó so với các loại trojan thông thường.

    Theo Candid Wuest, nhà nghiên cứu của Symantec, khoảng 10% thị trường trojan hiện nay được nguồn mở hóa. Việc chuyển sang mô hình nguồn mở cho phép các kẻ tội phạm bổ xung được tính năng cho các mã độc của chúng.

    "Ưu điểm là có nhiều người tham gia vào phát triển một mã độc hơn là chỉ có tác giả, nếu người đó chuyên về mã hóa, họ sẽ bổ xung tính năng mã hóa (để tránh bị các chương trình diệt virus phát hiện), kẻ chuyên về video streaming có thể bổ xung tính năng streaming từ xa," Wuest nói.

    Việc nguồn mở hóa các trojan bắt đầu từ năm 1999 khi nhóm Dead Cow công bố mã nguồn của trojan Back Orifice. Gần đây, những tác giả của Limbo Trojan cũng công bố mã nguồn để đẩy nhanh việc sử dụng nó bởi những kẻ lừa đảo trên mạng.

    Sau khi ra đời năm 2007, Limbo Trojan trở thành trojan được sử dụng rộng rãi nhất thế giới nhưng tới năm 2008 thì mất ngôi vị đó sau khi Zeus Trojan tinh vi  hơn xuất hiện. Trở thành trojan thống trị trên thị trường đem lại cho tác giả của chúng rất nhiều tiền: các máy bị nhiễm và các thông tin cá nhân, tài chính mà trojan đánh cắp được trị giá hàng triệu đô la trên thị trường đen. Limbo Trojan trước đây được bán cho những kẻ lừa đảo trên mạng với giá 350USD, trong khi Zeus Trojan hiện nay có giá từ 1000 đến 3000USD.

    Tuy nhiên người đứng đầu bộ phận công nghệ mới của hãng an ninh mạng RSA là Uri Rivner cho biết việc nguồn mở hóa không cứu vãn được vị trí suy đồi của Limbo Trojan.

    "Chúng chuyển sang mô hình kinh doanh hệt như các dự án phần mềm nguồn mở khác: cho không phiên bản cơ bản, bán phiên bản tiên tiến hơn hoặc dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp hoặc dịch vụ cá biệt hóa theo yêu cầu khách hàng. Lúc mới nguồn mở hóa thì đó là tin nóng, nhưng từ đó "khách hàng" ngừng mua nó. Nó không còn là trojan tốt nhất nữa, nhưng vì nó là phần mềm nguồn mở nên những kẻ tội phạm trên mạng có thể thử dùng nó như công cụ đầu tay"

    Tính phổ biến của Limbo tiếp tục giảm mặc dù có nhiều tính năng mới được bổ xung cho phép kẻ tội phạm có thể thêm các trường phụ vào mã PIN để đánh lừa các website của ngân hàng, thu thập danh sách các phím đã gõ và các file đã lưu trên máy tính bị nhiễm trojan.

    Và trong khi việc nguồn mở hóa không mang lại may mắn cho Limbo, nó còn tạo ra thêm vấn đề cho những kẻ lừa đảo trên mạng: các công ty an ninh mạng cũng có mã nguồn của nó.

    Đại đa số trojan lây nhiễm bằng con đường download: nó tự động được tải về máy khi bạn mở một website đã nhiễm độc, hoặc một thông báo của một mạng xã hội thúc dục mọi người tải về một bản cập nhật an ninh nhưng thực ra đó là một trojan.
    Các phương pháp lây nhiễm đó tỏ ra hiệu quả hơn các kỹ thuật trước đây như gửi một email có link đến file đã nhiễm hoặc có file đính kèm chứa trojan.
    Các nhà phân tích của RSA nói phương pháp mới đã tăng số lần lây nhiễm theo cấp số nhân: tháng 8/2008 hãng chỉ phát hiện được 613 lần lây nhiễm, tháng 8/2009 là 19.102
    September 21

    Thiết kế kiến trúc hệ thống mở

    Đọc hai bài báo gần đây (bài 1bài 2) cũng thấy mừng cho ngành Công nghệ Thông tin nước nhà bắt đầu đi vào nề nếp. Đây cũng là vấn đề tôi ấp ủ nhưng chưa làm được, xả ra trên blog vậy.

    Cách đây khoảng 3 năm, đặt vấn đề với FIS về “Thiết kế kiến trúc hệ thống” theo một framework có sẵn còn thấy ngơ ngác, đưa cho cái link TOGAF thì tấm tắc khen hay. Vậy mà bây giờ đã có người đỗ chứng chỉ! Tuy nhiên đây là một công việc khá khó, khối lượng lớn, một người e rằng quá ít.

    Ngay cả việc bộ Ngoại giao giao cho Microsoft thiết kế kiến trúc chuẩn cũng là việc đáng bàn. Nhưng cái đó để sau.

    Vậy thì “Kiến trúc hệ thống” tạm dịch từ “Enterprise Architecture” là cái gì?

    Khi xây một cái nhà, bước đầu tiên là thiết kế kiến trúc (nếu cả một khu nhà lớn thì trước đó còn có cả quy hoạch nữa). Thiết kế kiến trúc xong mới đến thiết kế xây dựng, thiết kế thi công và thiết kế hoàn công nữa.

    Xây một hệ thống thông tin lớn cũng vậy. Kiến trúc của một tổ chức được định nghĩa theo ISO/IEC 42010:2007 là:

    “Tổ chức cơ bản của một hệ thống thể hiện trong các bộ phận cấu thành, quan hệ giữa các bộ phận với nhau và với môi trường ngoài và trong các nguyên tắc chỉ đạo việc thiết kế và phát triển các bộ phận đó”
    "The fundamental organization of a system, embodied in its components, their relationships to each other and the environment, and the principles governing its design and evolution."

    Kiến trúc hệ thống đại thể có các hạng mục lớn sau:

    1. Kiến trúc nghiệp vụ (Business Architecture): xác định chiến lược hoạt động của tổ chức, cách quản lý, hệ thống tổ chức và các hoạt động nghiệp vụ chính.

    2. Kiến trúc ứng dụng (Application Architecture): là bản thiết kế (đến mức nào?) các ứng dụng, tương tác giữa chúng với nhau và quan hệ của chúng với các hoạt động nghiệp vụ chính của tổ chức.

    3. Kiến trúc dữ liệu (Data Architecture): mô tả cấu trúc các kho dữ liệu logic và vật lý của tổ chức và các tài nguyên dùng quản lý dữ liệu.

    4. Kiến trúc công nghệ (Technology Architecture): mô tả hạ tầng phần mềm để khai triển các ứng dụng quan trọng, cốt lõi của hệ thống.

    Mục 1 là trách nhiệm các nhà lãnh đạo, mục 2 và 3 có khi được gọi chung là Kiến trúc hệ thống thông tin (Information System Architecture).

    Khối lượng công việc thiết kế như trên rất lớn và rất phức tạp. Vì vậy cần phải có một quy trình thiết kế tiêu chuẩn và vô số công cụ hỗ trợ gọi chung là Phương pháp kiến trúc (Achitecture Framework).

    Phương pháp kiến trúc là một công cụ dùng để phát triển các kiến trúc bao gồm:

    • một phương pháp thiết kế hệ thống thông tin gồm nhiều bộ phận có tương tác với nhau

    • một bộ các công cụ thiết kế và một từ điển thuật ngữ thống nhất.

    • một danh sách các tiêu chuẩn nên dùng

    • một danh sách các sản phẩm thoả mãn chuẩn có thể dùng để xây dựng nên các bộ phận của hệ thống thông tin.

    Nói nôm na nó là bản hướng dẫn từng bước thiết kế kiến trúc như thế nào.

    Cái framework này rất quan trọng để có được một thiết kế đúng, hợp lý, thống nhất chung cho toàn hệ thống. Vì vậy chính phủ một số nước cũng như các bộ quốc phòng Anh, Mỹ và thậm chí NATO đều ban hành framework chuẩn cho hệ thống của mình (xem thêm). Các công ty và các loại tổ chức khác thì có thể chọn một trong các frameworks phổ biến để áp dụng.

    TOGAF (The Open Group Architecture Framework) là một framework do tổ chức Open Group xây dựng. Open Group là một consortium độc lập với công nghệ và nhà cung cấp có mục tiêu hỗ trợ truy cập thông tin tích hợp bên trong và giữa các tổ chức dựa trên các chuẩn mở và tính tương tác toàn cầu (The Open Group is a vendor- and technology-neutral consortium, whose vision of Boundaryless Information Flow™ will enable access to integrated information within and between enterprises based on open standards and global interoperability.) Thành viên của Open Group có các đại công ty như HP, IBM, HSBC, các trường, viện, và các tổ chức, cá nhân khác.

    Phiên bản 1 của TOGAF ra đời năm 1995 trên cơ sở framework TAFIM của bộ quốc phòng Mỹ. Phiên bản 9 là mới nhất hiện nay. Tài liệu được công bố công khai trên mạng và có thể tải về dùng nội bộ miễn phí (dùng thương mại, thiết kế kiếm tiền thì phải trả tiền).

    Mỗi bản TOGAF là một tài liệu dài cỡ 300 trang mô tả rất chi tiết các khái niệm, các bước thiết kế cụ thể, các tiêu chuẩn, form mẫu, các công cụ hỗ trợ. Xem thoáng qua thì rất hay và rất thích nhưng hiểu được thì … chết liền, mất khá nhiều thời gian và nơ ron thần kinh mà cũng chưa chắc đã hiểu, chưa nói đến ứng dụng!

    Điểm hay của TOGAF là nó vô tư (độc lập với công nghệ và nhà cung cấp, dựa trên các chuẩn mở), tài liệu rất chi tiết, có diễn đàn hỗ trợ, nói tóm lại là nó mở. Ai đã từng làm thiết kế đều biết cửa ăn hoa hồng dễ nhất là trói thiết kế vào sản phẩm.

    Bởi vậy, tôi mới thấy băn khoăn về cái thiết kế của bộ Ngoại giao. Có nên tin vào tính vô tư của Microsoft hay không?

    September 17

    Hãng phim DreamWorks dùng đám mây điện toán của Red Hat để giảm chi phí làm phim.

    DreamWorks uses Red Hat cloud to cut filmmaking costs

    By Pam Derringer, News Contributor
    10 Sep 2009 | SearchEnterpriseLinux.com

    zxc232 lược dịch

    (Làm phim hoạt hình tốn công suất máy tính dễ sợ. Xem thêm về Hollywood dùng Linux tại đây)

    Công ty phần mềm nguồn mở Red Hat đang thảo luận với hãng phim DreamWorks về việc dùng đám mây điện toán chạy trên Red Hat Linux để sản xuất bộ phim hoạt hình nổi, ba chiều đầu tiên trên thế giới trong năm nay.

    Đám mây điện toán của Red Hat cùng với các phần mềm dựng phim mới nhất sẽ giúp dựng bộ phim hoạt hình “Cuộc chiến giữa các con quỷ và người ngoài hành tinh” có những cảnh hoàng tráng như cảnh sụp đổ của cầu treo Cổng Vàng tại San Francisco.

    Các hiệu ứng đặc biệt sẽ làm cho dự án phim này tốn đến 40 triệu giờ công, chi phí gấp 8 lần bộ phim Shrek nổi tiếng và hoàn thành trong 2 năm.

    Linh hoạt hơn.

    Điện toán đám mây là yếu tố then chốt để làm phim nhanh hơn và hiệu quả hơn, cho phép DreamWorks có được năng lực máy tính phù hợp lúc ổn định cũng như lúc cao điểm, giảm yêu cầu số nhân vi xử lý từ 21.000 xuống 16.000. Điện toán đám mây cung cấp dịch vụ linh hoạt hơn các dàn máy chủ, cho phép chia nhỏ các đoạn phim gửi đồng thời cho 40 nhân xử lý, tự động hóa được một số công việc trước đây phải làm thủ công, giảm thời gian quay vòng từ 4 giờ xuống còn vài phút.

    Ứng dụng ảo hóa trong đám mây điện toán cũng cho phép DreamWorks xử lý tách biệt các công việc, đo lường được mức độ sử dụng tài nguyên tính toán và kiểm tra được trạng thái từng việc, do đó giảm thời gian dựng phim.

    Cơ sở máy tính của DreamWorks là một mạng lưới máy chủ xây dựng đã 10 năm gồm hơn 20.000 nhân vi xử lý phân bổ trong 4 trung tâm dữ liệu nối với nhau bằng hơn 20.000 km cáp đôi gigabit (trừ trung tâm đặt tại Bangalor, Ấn độ). Mặc dù vậy, DreamWorks luôn phải đối mặt với những “thách thức khó chịu” về thiếu băng thông và mật độ I/O cao khi chuyển dữ liệu vào ra mạng lưới điện toán của họ.

    Red Hat đã giải quyết được các khó khăn đó bằng việc ảo hóa nhân hệ điều hành, quản lý ảo hóa, phối hợp các ứng dụng và tạo các lớp đám mây trừu tượng (kernel virtualization, virtualization management, the application orchestration and cloud abstraction layers).

    September 14

    Mô hình nguồn mở trong một số lĩnh vực ngoài phần mềm.

    Mô hình nguồn mở trong một số lĩnh vực ngoài phần mềm.

    Gần đây có một số bài báo về hai sản phẩm mới: Thiết kế xe ôtô cho tương laiHệ điều hành nguồn mở cho máy ảnh. Nhưng ý tưởng chính đằng sau các sản phẩm đó chưa được rõ ràng.

    Phong trào Phần mềm nguồn mở không chỉ liên quan đến phần mềm máy tính. Nó tạo nên một mô hình (hoặc triết lý, tư tưởng, nguyên tắc, phương pháp luận, …) nguồn mở chi phối ở các mức độ khác nhau toàn bộ quá trình thiết kế, xây dựng, phân phối một sản phẩm. Về đại thể, một sản phẩm nguồn mở là do một cộng đồng tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng (một phần hay toàn bộ) và cho phép người khác tự do sử dụng phần đóng góp của mình.

    Hiện tại, những sản phẩm nguồn mở thường là sản phẩm chất xám (phần mềm, thông tin, ….) hoặc là phần chất xám trong sản phẩm đó (ý tưởng, thiết kế, phần mềm điều khiển, …).

    Sản phẩm nguồn mở có thể là (một số ví dụ và còn nữa):

    • Truyền thông nguồn mở: điển hình là phong trào viết blog hiện nay. Ngoài ra còn có các diễn đàn (forum), các bảng tin (messageboard). Tất cả thông tin của blog, diễn đàn, bảng tin đều do cộng đồng tự nguyện đóng góp và chia sẻ cho mọi người cùng sử dụng.

    • Tình báo nguồn mở (Open source intelligence): phương pháp tìm kiếm, chọn lọc, phân tích các nguồn tin công khai để tạo nên các nguồn tin tình báo có giá trị. Đây là một ngành tình báo quan trọng, có tổ chức chặt chẽ (xem thêm).

    • Chính trị nguồn mở (Open Politics): phương pháp tiến hành các hoạt động chính trị sử dụng các phương tiện Internet như blog, email, poll (thăm dò ý kiến) để tăng cường giao lưu giữa các tổ chức chính trị và đội ngũ quần chúng ủng hộ. Tổng thống Mỹ Obama đã sử dụng xuất sắc phương pháp này trong kỳ bầu cử vừa qua. Một biến thể khác là dùng các phương tiện trên để quần chúng tham gia rộng rãi vào quá trình xây dựng một chính sách.

    • Giáo dục nguồn mở: bộ giáo trình mở (OpenCourseWare) đồ sộ của học viện công nghệ Massachusetts đưa công khai, miễn phí lên mạng Internet và từ điển bách khoa Wikipedia là các ví dụ.

    • Văn hóa nguồn mở: ví dụ điển hình nhất là các bản dịch truyện của cộng đồng mạng Việt nam gần đây (Harry Porter, Tru tiên, ….) hoặc các website thư viện do cộng đồng người đọc bỏ công gõ truyện đóng góp (Vietnam Thư quán, Nhạn môn quan, …).

    • Sản phẩm nguồn mở: trong một post trước đã giới thiệu notebook nguồn mở: thiết kế của laptop OpenBook được công khai để mọi người tham gia góp ý, sửa và sử dụng. Hãng chế tạo điện thoại smartphone Openmoko còn nguồn mở hóa cả thiết kế phần cứng lẫn phần mềm điện thoại của hãng. Và cả hai sản phẩm oto, máy ảnh đã nêu ở phần đầu bài này.

    • Còn nữa … (hỏi cụ Gúc).

    Dự án xe ôtô tương lai:

    Dự án C,mm,n (phát âm là 'common') là một dự án nguồn mở xây dựng một giải pháp tổng thể về phương tiện di chuyển cá nhân bền vững (sustainable personal mobility) cho tương lai. Về cơ bản nó là một kiểu xe chạy điện nhưng không phải chỉ có thiết kế xe mà cả hệ thống trạm nạp, điều khiển, tín hiệu, ...Ai cũng có thể tham gia dự án này, đóng góp các ý tưởng, phương án, thiết kế; sửa đổi, bổ xung những kết quả đã có hoặc tối thiểu là nhận xét, góp ý và sử dụng miễn phí các kết quả của dự án đúng như một dự án phần mềm nguồn mở. Các công trình đóng góp vào dự án cũng được cấp phép sử dụng theo một giấy phép nguồn mở.

    Hiện dự án đã đạt tới phiên bản C,mm,n car 2.0. Nội dung cụ thể xem tại đây.

    Máy ảnh Frankencamera

    Máy ảnh Frankencamera là một trong hai dự án con của dự án Camera, một dự án chung của trường đại học Stanford và các công ty Nokia, Adobe Systems, Kodak, Hewlett-Packard, Walt Disney.

    Dự án Camera là một dự án về công nghệ chụp ảnh bằng máy tính (computational photography), tức là chụp ảnh, quay video bằng máy ảnh có máy tính bên trong (có thể tạm gọi là máy tính chụp ảnh). Công nghệ ảnh máy tính dùng các phần mềm bên trong máy ảnh điều khiển quá trình chụp, nhằm tăng cường và mở rộng khả năng của công nghệ ảnh số hóa (digital photography). Máy ảnh loại computational photography chụp ra được những bức ảnh mà máy ảnh số bình thường (digital camera) không thể chụp được.

    Phần cứng của máy ảnh Frankencamera lắp tạp nham từ linh kiện của nhiều loại máy ảnh khác nhau: bo mạch chính của Texas Instruments có các bộ xử lý chung và xử lý ảnh, một màn hình LCD nhỏ, chạy hệ điều hành Linux; chip chụp ảnh lấy của điện thoại Nokia N95, ống kính thì của Canon,... tất cả đều có thể điều khiển bằng phần mềm được.

    Mục tiêu của dự án là xây dựng một nền tảng phần mềm (platform) nguồn mở cho việc chụp ảnh và quay video. Vì là nguồn mở nên ai cũng có thể lập trình các tính năng mình thích dưới dạng phần mềm bổ xung (add-ons), tải vào máy cho chạy để chụp ra những bức ảnh mong muốn. Người dùng bình thường cũng có thể kết nối máy ảnh kiểu này vào Internet, chọn phần mềm bổ xung cần thiết tải về máy rồi chụp.

    Những ai đã dùng trình duyệt nguồn mở Firefox đều rất quen thuộc với kho tính năng bổ xung add-ons và extensions kiểu này. Có điều đây là máy ảnh.

    Nếu không dùng Photoshop, sẽ phải bố trí sân khấu, dàn đèn, máy ảnh, … rất đắt tiền và công phu để đạt được những hiệu ứng tương tự. Tương tự, máy tính chụp ảnh hứa hẹn sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong nghệ thuật nhiếp ảnh vì:

    • Chỉ dùng những máy ảnh rẻ tiền chụp được các bức ảnh cao cấp, thậm chí có những tính năng mà máy ảnh thường không thể đạt được.

    • Cho phép người chụp tự trang bị tính năng cần thiết cho máy ảnh bằng các phần mềm tải về từ Internet.

    Và cuộc cách mạng đó là dựa trên mô hình nguồn mở!


    September 12

    Microsoft ủng hộ phong trào phần mềm nguồn mở bằng ....tiền!

    Năm 2001, trả lời phỏng vấn báo Chicago Sun-Times, Tổng giám đốc Steve Balmer của Microsoft còn gọi Linux là một căn bệnh ung thư. Từ đó đến nay, đã có những bước thay đổi lớn như đã nêu trong bài Microsoft đang chuyển sang phần mềm nguồn mở!!! và bài Microsoft mở cửa cho cộng đồng nguồn mở.
    Trong các bài viết đó, tôi đã nhận xét :
    "Nếu nhìn lại lịch sử thì Microsoft luôn là người đi sau. Họ không phải là người viết ra DOS, giao diện đô họa kiểu Windows là sáng kiến của Apple, phần mềm soạn văn bản WordPerfect và bảng tính Lotus 1-2-3 ra đời trước Word, Excel, trình duyệt web đầu tiên là Netscape, hệ điều hành mạng Novell Netware có trước WinNT, v.v…. Nhưng Microsoft lại có khả năng bắt chước và kiếm tiền cực giỏi trên những cái mà những người khai sáng thất bại về mặt kinh doanh."

    "Như vậy, với khả năng kinh doanh siêu đẳng, Microsoft chấp nhận Linux ở những nơi không cưỡng lại được (thị trường máy chủ) và đang đi bán Linux Server; tận dụng phong trào nguồn mở: cung cấp tài liệu để cải tiến phần mềm nguồn mở và hỗ trợ cộng đồng nguồn mở để …. sử dụng công nghệ Microsoft và chạy được trên Windows. Tóm lại, mèo trắng, mèo đen gì cũng được miễn là bắt được chuột trong ngôi nhà ở Redmond."

    Trong một báo cáo gần đây gửi Ủy ban Chứng khoán châu Âu, Microsoft đã chính thức liệt kê Red Hat và Ubuntu như các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực máy tính để bàn.
    Ngày 10/9/2009, Microsoft tuyên bố thành lập quỹ CodePlex (CodePlex Foundation - codeplex.org). với các thông tin ban đầu như sau:

    Quỹ CodePlex là một quỹ phi lợi nhuận thành lập với nhiệm vụ hỗ trợ việc trao đổi mã nguồn và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các công ty phần mềm và cộng đồng phần mềm nguồn mở (The CodePlex Foundation, a non-profit foundation formed with the mission of enabling the exchange of code and understanding among software companies and open source communities).

    Quỹ CodePlex được tạo nên như một diễn đàn trong đó cộng đồng nguồn mở và cộng đồng các nhà lập trình (nguồn đóng) có thể đi cùng với nhau nhằm mục tiêu chung tăng cường sự tham gia vào các dự án nguồn mở. Quỹ CodePlex sẽ bổ xung vào hàng ngũ các quỹ và tổ chức phần mềm nguồn mở hiện có (ví dụ Mozilla Foundation, Gnome Foundation - zxc232) tạo nên một diễn đàn trong đó một nhóm rộng rãi các thành viên gồm các công ty phần mềm và cộng đồng nguồn mở có thể thiết lập các thực tiễn tốt nhất và các hiểu biết được chia sẻ. Phần vốn ban đầu của quỹ sẽ do công ty Microsoft tài trợ. (the CodePlex Foundation was created as a forum in which open source communities and the software development community can come together with the shared goal of increasing participation in open source community projects. The CodePlex Foundation will complement existing open source foundations and organizations, providing a forum in which best practices and shared understanding can be established by a broad group of participants, both software companies and open source communities. Initial funding for the Foundation comes from Microsoft Corporation.)

    Thông báo trên cũng khằng định Microsoft không phải nhà tài trợ độc quyền cho quỹ. Mọi cá nhân, tổ chức khác có thể tham gia quỹ này dưới các hình thức: nhà tài trợ (sponsors), đóng góp dự án, tham gia hội đồng cố vấn. Trong những tháng tiếp theo, sẽ hoàn thiện cơ cấu tổ chức và xem xét các dự án phần mềm nguồn mở được tài trợ.

    Cũng cần phân biệt quỹ CodePlex (codeplex.org) và site CodePlex.com. CodePlex.com (cũng của Microsoft) hình thành năm 2006 là site lưu trữ các dự án nguồn mở (tương tự như SourceForge.net) và hiện đã có hơn 10.000 dự án (tất nhiên là đều chạy trên nền Windows).

    Một điểm khác biệt nữa giữa quỹ CodePlex  và các quỹ nguồn mở hiện có như Mozilla Foundation, Gnome Foudation, ... là các quỹ nguồn mở tập trung vào một sản phẩm cụ thể, một lĩnh vực hẹp. CodePlex có tham vọng bao trùm một phạm vi dự án rộng hơn, không cạnh tranh với các quỹ hiện có và luôn lưu ý đến các giấy phép sử dụng và nhu cầu bảo vệ tài sản tri thức của các công ty phần mềm thương mại (with the licensing and intellectual property needs of commercial software companies in mind).

    Có thể hình dung quá trình hoạt động tiếp theo của quỹ như sau: dù có ai tham gia thêm đi nữa, Microsoft với tiềm lực tài chính khổng lồ vẫn sẽ là nhà tài trợ hàng đầu và nắm quyền chi phối quỹ. Vì vậy các dự án nguồn mở được quỹ tài trợ sẽ là các dự án chạy trên nền Windows hoặc bổ xung tính năng cho các sản phẩm Windows. Để làm được như vậy, nếu cần thiết, Microsoft sẽ nguồn mở hóa một số tài liệu kỹ thuật cần thiết như gần đây họ đã làm với dự án Samba. 

    Như vậy về bản chất, CodePlex là một công cụ kinh doanh mới của Microsoft khai thác mô hình phát triển phần mềm nguồn mở. Bỏ ra một số tiền nhỏ để tài trợ cho các dự án, huy động được một đội ngũ lập trình lớn để phát triển các phần mềm cho Windows với chi phí chắc chắn là thấp hơn thuê lập trình viên chính thức trong biên chế và đông đảo hơn số lượng lập trình viên chính thức hiện có. Các dự án phần mềm nguồn mở của quỹ này sẽ góp phần củng cố nền tảng Windows mạnh hơn.

    Nếu khôn ngoan hơn thì đại đa số dự án chạy trên Windows hoặc dùng công nghệ của Microsoft. Nhưng cũng có một vài dự án cross-platform hoặc thậm chí chạy trên Linux!

    Quỹ này không vô tư như các quỹ phần mềm nguồn mở và là một bằng chứng cho khả năng kinh doanh siêu việt của Microsoft như đã nói ở trên.

    Ta hãy chờ xem các dự báo trên có đúng không?

    September 11

    Yahoo Messenger for Linux và các kiểu chat khác (updated 12/9/09)

    Yahoo Messenger có khá đông người dùng và phổ biến ở Việt nam. Khởi đầu chỉ có text chat, nay Yahoo Messenger đã có cả video\voice chat, tương tự như Skype.
    Trên Linux có bản Yahoo Messenger for Linux 1.0.4 từ năm 2005 khá cũ và hình như đã ngừng phát triển. Tuy nhiên để dùng Yahoo Messenger trên Linux có nhiều cách.
    Gyachi
    Gyachi là bản Yahoo Messenger for Linux do cộng đồng nguồn mở phát triển. Nhánh hiện nay phát triển nhất của Gyachi là GYachE Improved (tên gói phần mềm vẫn là gyachi), phiên bản mới nhất là 1.2.2 ra ngày 22/7/2009.
    Trong kho phần mềm của Linux Mint, phiên bản mới nhất là gyachi 1.2.1.. Trong kho của Ubuntu 9.04 không có phần mềm này. Bản cài đặt gyachi 1.2.2 tải về tại đây (cũng dùng cho Linux Mint). Mandriva có bản cũ hơn là 1.1.59.
    Sau khi cài, tên phần mềm GYachE Improved xuất hiện trong menu ở mục Internet. Màn hình như sau:

    Tính năng khá đầy đủ, Options phong phú như trong hình. Hỗ trợ cả video/voice chat. Nhược điểm là giao diện không đẹp.

    Kopete và Pidgin
    Kopete và Pidgin là hai phần mềm instant messenger phổ biến trên Linux. Kopete viết cho KDE, Pidgin cho GNOME nhưng cài sang môi trường khác vẫn dùng được. Ngoài Yahoo Messenger, hai phần mềm này còn dùng chat được trên khoảng một tá dịch vụ khác (MSN, Google Talk, ICQ, IRC, v.v...).
    Pidgin hiện tại chỉ hỗ trợ text chat, không có video/voice chat.
    Kopete có video/voice chat, màn hình đẹp nhưng hiện tại bản Kopete 0.70.90 for KDE 4.3.1 cũng gặp lỗi không nhận biết được các nick Yahoo khác đang online, do đó không chat được. Theo các thông tin trên mạng, gần đây Yahoo có thay đổi gì đó trong protocol đăng nhập mà Kopete chưa kịp sửa.

    CẬP NHẬT (12/9/09): Sửa lỗi nói trên: máy chủ mặc định scs.msg.yahoo.com có lỗi kết nối. Sửa như sau: vào Settings > Configure > Accounts , nhấn chọn account Yahoo rồi nhấn nút Modify. Trong màn hình con, chọn tab Account Preferences, đánh dấu chọn mục Override default server information rồi khai lại địa chỉ máy chủ là một trong ba địa chỉ sau:

    (1) cs101.msg.mud.yahoo.com
    (2) cs102.msg.mud.yahoo.com
    (3) cn.scs.msg.yahoo.com

    Tôi dùng địa chỉ thứ ba thì kết nối tốt, các Friends đều nhận được.


    September 08

    Skype for Linux

    Skype là dịch vụ điện thoại Internet miễn phí phổ biến nhất hiện nay. Thường xuyên trên mạng này có khoảng 10 triệu người online.
    Skype có bản cài cho Linux, tải về tại đây. (cho Debian, Ubuntu, Fedora và OpenSUSE). Riêng bản cài cho Mandriva tải về tại đây hoặc tại đây, bản này được convert từ bản dành cho Ubuntu 8.10 và cài tốt trên Mandriva 2009. Theo kinh nghiệm của tôi, các phần mềm nhỏ dùng alien convert từ bản dùng cho Ubuntu (deb sang rpm) thường cài được trên Mandriva, trong khi các bản rpm dùng cho Red Hat lại không cài được.
    Bản mới nhất là Skype 2.1 beta có một tính năng mới thuận tiện cho chạy trên Linux là hỗ trợ Pulse Audio, soud server hiện được dùng phổ biến trong các bản Linux, do đó phần âm thanh không phải cấu hình. Các phiên bản Skype trước 2.1 có thể hơi rắc rối khi cấu hình âm.
    Dịch vụ cơ bản của Skype là gọi miễn phí điện thoại qua Internet + chat giữa hai máy tính và hai người có account đăng ký với Skype. Nếu có webcam, hai bên có thể nhìn thấy nhau.

    Phần cấu hình và test sound, video nằm trong màn hình Options như trong hình trên. Không có cái wizard hướng dẫn test như bản Skype for Windows nhưng cũng không cần thiết. Webcam hiện được hỗ trợ khá tốt trong Linux nhưng cũng có thể gặp trục trặc. Tôi đã thử, webcam Tako 10 thì Skype nhận tốt, nhưng Tako 01 thì không. Kể cả webcam hàng hiệu Logitec, đôi khi cũng phải cắm đi cắm lại.
    Chất lượng tiếng và hình phụ thuộc vào chất lượng đường truyền Internet. Nếu đường truyền tốt, tiếng và hình chấp nhận được tuy có hơi trễ và đôi lúc ngắt đoạn.
    Các dịch vụ trả phí của Skype: gọi tới điện thoại di động, cố định và ngược lại, gửi tin nhắn SMS, voice mail, chuyển tiếp cuộc gọi, v.v...
    Skype có cả bản cài trên các mobile phone nhưng tôi chưa thử. Hai mobile phone cài Skype có thể gọi quốc tế cho nhau (?) với cước Internet nội.
    Với những tính năng trên, Skype hiện là kẻ thù của các hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và di động.

    Ngoài Skype, còn có  EkigaLinphone cũng là phần mềm điện thoại trên Internet (VoIP) + chat có video.
    Ekiga mặc dù viết cho GNOME nhưng được cài sẵn trên Mandriva KDE và các bản Linux khác. Tính năng tương tự Skype, chỉ có chất lượng chưa thử nên không rõ. Nhược điểm thấy ngay là Ekiga chỉ chạy được trên Linux, không có bản chạy trên Windows.
    Linphone cũng như Ekiga, dựa trên giao thức SIP (Session Initiation Protocol ), một chuẩn mở về thoại trên Internet. Linphone chạy được trên Linux và Windows XP. Linphone có trong các kho phần mềm của Ubuntu, Mandriva, Linux Mint, ... cài đặt dễ dàng.
    Cũng như Skype, phần dịch vụ cơ bản (thoại + chat giữa hai máy tính) là miễn phí. Người sử dụng cần có một account SIP đăng ký (miễn phí) với một dịch vụ nào đó. Địa chỉ để gọi có dạng (ví dụ) sip:zxc232@ekiga.net.
    Nếu hay gọi điện thoại qua Internet, ngoài Skype có thêm Ekiga hoặc Linphone để dự phòng cũng không phải là thừa.